Bạn sẽ gặp cả version và revision khi làm việc với mẫu. Version giúp chọn bản mẫu để sử dụng; revision ghi lại những lần thay đổi bên trong bản đó. Hiểu hai lớp này sẽ giúp bạn vừa phát triển thiết kế mới, vừa tìm lại nội dung đã lưu.
1. Version là bản bạn chọn để chạy
Một template có thể có v1, v2 và các version tiếp theo. Mỗi version có nội dung và trạng thái Draft/Published riêng. Trong Run, bạn chọn số version trước khi tạo PDF.
Khi tích hợp, chỉ định version để quy trình dùng đúng bản đã chọn. Nếu bỏ qua, hệ thống lấy current version của template; giá trị này không đồng nghĩa với “bản published mới nhất”.
2. Revision ghi các lần thay đổi trong version
Khi nội dung được lưu, lịch sử ghi một revision để bạn xem lại hoặc khôi phục. Ví dụ, v2 có thể gồm revision 1 khi tạo, revision 2 khi đổi nội dung và revision 3 khi chỉnh CSS.
Số revision không thay cho số version trong Run. Chỉ định v2 cũng không ghim vào một revision bất biến: v2 vẫn có thể được lưu thêm thay đổi.
3. Tạo version từ bản có sẵn hoặc bắt đầu trống
Mở bộ chọn version ở thanh trên cùng và chọn New version. Chọn version nguồn rồi bấm Create để dùng lại thiết kế đó; hoặc chọn Blank để bắt đầu trống.
Đợi quá trình tạo hoàn tất trước khi chỉnh. Version mới cần được kiểm tra và publish riêng; các lần gọi đang chỉ định version cũ vẫn dùng số cũ cho đến khi bạn đổi.
4. Phân biệt version, variant và schemaVersion
Ba tên gần nhau nhưng dùng cho ba việc khác nhau:
| Tên | Vai trò |
|---|---|
| Version | Bản mẫu được chọn khi tạo PDF. |
| Variant | Bộ giá trị hoặc phần hiển thị khác nhau trong một version. |
schemaVersion |
Định dạng dữ liệu của template trong file JSON. |
Nếu chỉ cần đổi bộ nhãn hoặc màu mà vẫn dùng chung cấu trúc, xem Variants. Nếu cần quay lại một lần lưu trước, dùng lịch sử revision.